Chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant - CW) là một sản phẩm chứng khoán có cấu trúc do công ty chứng khoán phát hành và niêm yết, có các đặc điểm tương tự như một hợp đồng quyền chọn trên thị trường phái sinh. Người sở hữu chứng quyền sẽ có quyền (nhưng không có nghĩa vụ) mua (hoặc bán) Chứng khoán cơ sở tại một Mức giá xác định trước, vào trước hoặc tại một Thời điểm cụ thể trong tương lai. Hai loại chứng quyền cơ bản:

1. Chứng quyền mua (call warrant): cho phép người sở hữu có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ, được mua một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn.
2. Chứng quyền bán (put warrant): cho phép người sở hữu có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được bán một chứng khoán.

Ví dụ minh họa:
Nhà đầu tư mua 5.000 chứng quyền bán của cổ phiếu VIC với các thông tin sau:

Tỷ lệ chuyển đổi 5:1
Giá thực hiện 42.000 đồng
Giá VIC hiện tại 45.000 đồng
Thời hạn chứng quyền 6 tháng
Giá một chứng quyền 1.000 đồng


Như vậy tổng số tiền đầu tư vào CW = 5.000 x 1.000 đồng = 5.000.000 đồng

- Sau 03 tháng:
Giả sử giá VIC trên thị trường là 40.000 đồng, giá một chứng quyền bán trên thị trường là 1.200 đồng.
Nhà đầu tư có thể chốt lời bằng việc bán lại CW ngay thời điểm này trên Sở GDCK.
Mức lời của nhà đầu tư = 5.000 x (1.200 đồng – 1.000 đồng) = 1.000.000 đồng

- Vào ngày đáo hạn (Sau 6 tháng)
Giả sử nhà đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, giá thanh toán đối với cổ phiếu VIC được tính toán và công bố là 32.000 đồng.
Tổ chức phát hành sẽ thanh toán cho nhà đầu tư số tiền là: 5.000/5 x (42.000 đồng – 32.000 đồng) = 10.000.000 đồng.
Mức lời của nhà đầu tư = 10.000.000 đồng – 5.000.000 đồng (tổng số tiền bỏ ra để sở hữu CW) = 5.000.000 đồng.
Tuy nhiên, nếu giá thanh toán đối với cổ phiếu VIC được tính toán và công bố lớn hơn hoặc bằng 42.000 đồng (giá thực hiện).
Chênh lệch giữa giá thanh toán và giá thực hiện ≤ 0 đồng.
Chứng quyền sẽ không được thực hiện và nhà đầu tư trong trường hợp này sẽ mất số tiền đầu tư vào CW là 5.000.000 đồng.